Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại vào nguồn vốn huy động của hệ thống, trong một động thái nhằm bổ sung thanh khoản cho các ngân hàng và hỗ trợ dòng vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.
Yêu cầu này được nêu trong Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6 về cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm trong những quý còn lại của năm 2026, khi Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng từ 10% trở lên nhưng vẫn phải giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.
Điểm đáng chú ý trong nghị quyết là vai trò của tiền gửi Kho bạc được đặt rõ hơn trong phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ.
Có thể nâng hạn mức lên trên 50%
Theo quy định hiện hành, ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi được sử dụng theo thứ tự ưu tiên gồm: cho ngân sách trung ương tạm ứng, vay; cho ngân sách địa phương cấp tỉnh tạm ứng, vay; mua bán lại trái phiếu chính phủ; và gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại. Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định hạn mức cụ thể cho từng nội dung sử dụng ngân quỹ tại phương án điều hành ngân quỹ nhà nước hằng quý.
Hạn mức sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại có trần tối đa 50%. Trong đợt cao điểm cuối năm 2025 và Tết Nguyên đán 2026, Bộ Tài chính từng đề xuất nâng hạn mức này từ 50% lên 60% đến hết ngày 28/2/2026, sau khi Kho bạc Nhà nước đã gửi ngân quỹ nhàn rỗi tại các ngân hàng thương mại ở mức xấp xỉ tối đa hạn mức 50% theo quy định khi đó.
Nghị quyết mới đi xa hơn khi giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức cụ thể sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại, với khả năng vượt quá 50% khả năng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi.
Đây là tín hiệu cho thấy tiền gửi Kho bạc có thể được dùng linh hoạt hơn như một kênh hỗ trợ thanh khoản, bên cạnh các công cụ tiền tệ truyền thống của Ngân hàng Nhà nước.

Một điểm kỹ thuật khác là cách tính tiền gửi Kho bạc trong tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, hay LDR. Theo Thông tư 08/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, tổng tiền gửi dùng để tính LDR vẫn loại trừ tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước và 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước. Điều này đồng nghĩa các ngân hàng hiện được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số LDR.
So với quy định cũ, đây là một bước nới nhất định. Theo lộ trình trước đó tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN, từ ngày 1/1/2026, 100% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước dự kiến bị loại khỏi mẫu số LDR. Việc cho phép tính lại 20% giúp giảm bớt áp lực tỷ lệ an toàn thanh khoản, nhất là với các ngân hàng thương mại nhà nước có vai trò lớn trong cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
Đến cuối tháng 3, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng đạt 626.716 tỉ đồng, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước. Gần như toàn bộ số tiền này nằm tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, với 624.167 tỉ đồng, tương đương 99,59% tổng số dư tiền gửi Kho bạc tại các tổ chức tín dụng.

Với hệ thống ngân hàng, việc nâng cả hạn mức gửi ngân quỹ nhàn rỗi và tỷ lệ tiền gửi Kho bạc được tính vào nguồn vốn huy động có thể giúp cải thiện nguồn vốn ngắn hạn trong bối cảnh nhu cầu tín dụng vẫn cao. Tuy nhiên, đây không phải là nguồn vốn dài hạn ổn định như tiền gửi dân cư, do tiền gửi Kho bạc phụ thuộc vào tiến độ thu - chi ngân sách và giải ngân đầu tư công.
Động thái này diễn ra trong bối cảnh Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và hiệu quả hơn; triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại tệ để vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Ngân hàng Nhà nước cũng được yêu cầu chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, kiểm soát tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đồng thời bảo đảm nguồn vốn tín dụng cho các dự án lớn, trọng điểm và các dự án đã được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư.
Đẩy nhanh phân bổ ngân sách
Ở phía tài khóa, Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính tiếp tục điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm. Trong tháng này, bộ phải khẩn trương trình Chính phủ phương án điều chỉnh linh hoạt một số quy định về thuế đối với xăng dầu và nhiên liệu bay, phù hợp với diễn biến giá thế giới.
Bộ cũng được giao đẩy nhanh phân bổ nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 trong tháng 7/2026 và phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 trước ngày 15/7.
Các bộ, cơ quan và địa phương được yêu cầu tập trung nguồn lực đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công năm 2026, bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch được giao. Chính phủ cũng yêu cầu xây dựng kịch bản giải ngân chi tiết theo từng tuần, từng tháng và từng quý để làm cơ sở cảnh báo sớm, đồng thời tiếp tục gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả giải ngân.
Theo Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến ngày 18/6 mới đạt 264.224,7 tỉ đồng, tương đương 25,7% kế hoạch Thủ tướng giao.
Mục tiêu GDP 6 tháng cuối năm tăng 11,9%
Theo kịch bản cập nhật, GDP cả năm 2026 được các bộ, ngành và địa phương dự kiến tăng 8,7% nếu không có thêm các giải pháp mạnh. Để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, Chính phủ đặt mục tiêu GDP sáu tháng cuối năm phải tăng 11,9%. Trong đó, công nghiệp được đặt mục tiêu tăng 13,7%, xây dựng 17,6%, dịch vụ 12% và nông, lâm, thủy sản 4,3%.
Tính theo địa bàn, hai đầu tàu kinh tế là TP.HCM và Hà Nội được giao kịch bản tăng trưởng nửa cuối năm lần lượt 10,2% và 11%. Một số địa phương công nghiệp và dịch vụ lớn được đặt mục tiêu cao hơn, như Hải Phòng và Quảng Ninh cùng 13%, Bắc Ninh 12,5%, Hưng Yên và Nghệ An cùng 11,5%, Đà Nẵng 11,2%.





















